Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017

13 câu nói tiết lộ bí quyết đầu tư của “thiên tài bán khống” George Soros

Anh đưa ra quyết định đúng hay sai không quan trọng. Điều quan trọng là anh kiếm được bao nhiêu khi anh đúng và mất bao nhiêu khi anh sai!

Không chỉ được mệnh danh là người “phá sập ngân hàng Anh”, George Soros còn được biết đến là một nhà đầu tư lừng lẫy với những bí quyết đầu tư của một “thiên tài bán khống”. Tờ Telegraph của Anh từng nhận định, trong giới đầu tư tài chính chẳng ai có thể so sánh được với George Soros ngoài “đối thủ sừng sỏ” Warren Buffett.
Tháng 9 năm 1992, ông đặt 10 tỷ USD vào một vụ đầu tư tiền tệ, bán khống đồng bảng Anh. Kết quả là ông đã đúng và chỉ trong vòng một ngày thương vụ đó đã đem lại cho ông lợi nhuận 1 tỷ USD. Cuối cùng, ông đã thu về được 2 tỷ USD lợi nhuận trong vụ này.
Ông cũng rất nổi tiếng với thành tích điều hành quỹ Quantum Fund với tỷ suất lợi nhuận bình quân lên tới hơn 30% trong thời gian làm lãnh đạo.
"Khi mọi người đi đường bên tay phải, ông lặng lẽ tách khỏi mọi người để đi bên tay trái và rồi bất chợt mọi người nhận ra mình đang ở nước Anh" (nơi các phương tiện đi bên tay trái mới đúng luật). Đó là cách mà tờ The Wall Street Journal nói về nhà đầu tư vĩ đại bậc nhất thế giới.
Dưới đây là những câu nói tiết lộ bí quyết đầu tư của “thiên tài bán khống” George Soros.
1. Khi nhìn thấy bong bóng hình thành, tôi lập tức sẽ mua vào giống như việc “đổ thêm dầu vào lửa”. Điều này không bao giờ là một quyết định sai lầm cả.
2. Nếu đầu tư là một hoạt động giải trí để bạn tìm thấy niềm vui, thì có lẽ bạn sẽ không kiếm được tiền. Đầu tư luôn là một công việc buồn tẻ chứ không phải là hoạt động giải trí.
3. Anh đưa ra quyết định đúng hay sai không quan trọng. Điều quan trọng là anh kiếm được bao nhiêu khi anh đúng và mất bao nhiêu khi anh sai!
4. Cũng như các bạn, tôi là một con người trước khi trở thành một doanh nhân.
5. Tôi giàu có vì tôi biết khi nào mình sai và tôi tồn tại được nhờ nhận ra các sai lầm của mình.
6. Thị trường là nơi mỗi cá nhân có thể “chăm lo” cho nhu cầu riêng của mình và tìm kiếm lợi nhuận. Đó là một “phát minh” tuyệt vời và tôi không bao giờ đánh giá thấp tầm quan trọng của thị trường. Với tôi, thị trường không phải là nơi phục vụ cho các nhu cầu xã hội.
7. Điều khó nhất để đánh giá rủi ro là “mức độ rủi ro như thế nào sẽ an toàn”.
8. Nếu phải tóm tắt các kỹ năng của mình, tôi sẽ tóm gọn trong một từ: sinh tồn (survival). Và điều hành một quỹ đầu cơ đã tạo cơ hội để tôi vận dụng tối đa kỹ năng này.
9. Bong bóng thị trường chứng khoán không tự nhiên xuất hiện. Nó xuất phát từ những cơ sở thực tế, nhưng thực tế lại bị bóp méo do nhận thức sai lầm.
10. Thị trường tài chính luôn ở trong tình trạng bất ổn và biến động mạnh, vì thế bạn phải có càng nhiều kịch bản càng tốt. Chúng ta kiếm lợi nhuận bằng cách chiết khấu những điều chắc chắn và đánh cược vào những điều bất ngờ.
11. Tôi dựa rất nhiều vào bản năng động vật.
12. Nhiều tội ác trên thế giới chỉ là vô tình chứ không hề có chủ đích. Nhưng trong đầu tư tài chính, không ai gây ra thiệt hại mà không có chủ đích.
13. Bạn đang giao dịch với một thị trường, thế nên bạn phải giấu tên tuổi của mình. Trong đầu tư, hãy cứ im lặng mà làm!

Khởi động TTCK Phái sinh: Cận cảnh một giao dịch hợp đồng tương lai chỉ số VN30

Ngày 2/6 tới đây, TTCK phái sinh sẽ chính thức ra mắt với sản phẩm đầu tiên được triển khai là hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu (Equity Index Futures). Theo đó, chỉ số VN30 Index cùng với HNX30 Index sẽ là 2 chỉ số được chọn làm tài sản cơ sở cho hợp đồng tương lai chỉ số. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu vận hành thì chỉ có hợp đồng tương lai với chỉ số VN30 Index triển khai trước.
Hiện tại, bộ chỉ số VN30 Index là một trong những chỉ số ít bị chi phối nhất. Do đó, việc lựa chọn VN30 Index làm tài sản cơ sở cho hợp đồng tương lai sẽ bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư.
Câu hỏi đối với những nhà đầu tư quan tâm là Giao dịch hợp đồng tương lai thế nào?
Trước hết cần chú ý, một nội dung quan trọng của hợp đồng tương lai là hệ số nhân. Theo quy địnhhệ số nhân đối với VN30 Index là 100.000 đồng, điều này có nghĩa là quy mô hợp đồng cơ sở tương lai chỉ số VN30 Index tại mức 700 điểm là 70 triệu đồng (100.000 đồng x 700).
Tuy vậy, chỉ cần số tiền ký quỹ ban đầu bằng 10% quy mô hợp đồng, tức 7 triệu đồng, NĐT đã có thể tham gia giao dịch.
Mức Ký quỹ ban đầu = giá HĐ muốn mua/bán * hệ số nhân HĐ * số lượng HĐ mua/bán * tỷ lệ ký quỹ
Bên cạnh đó, nhà đầu tư cũng cần có khoản ký quỹ duy trì theo yêu cầu của trung tâm bù trừ.
Ví dụ dưới đây sẽ minh họa cụ thể hơn về cách thức giao dịch hợp đồng tương lai.
Ngày 02/06/2017, chỉ số VN30 là 700 điểm.
Nhà đầu tư A dự báo đến thời điểm đáo hạn, hợp đồng chỉ số VN30 tăng lên 720 điểm, do đó mua hợp đồng VN30F1706 với giá 710 điểm chỉ số. Với tỷ lệ ký quỹ ban đầu là 10%, tỷ lệ ký quỹ duy trì là 5% (ví dụ), A sẽ ký quỹ 7,1 triệu đồng tại CTCK. Số tiền ký quỹ ban đầu này sẽ được Trung tâm thanh toán bù trừ sử dụng trong việc tính toán lãi/lỗ của nhà đầu tư.
Nhà đầu tư B kỳ vọng ngược lại, cho rằng chỉ số VN30 sẽ giảm xuống 680 nên muốn bán một hợp đồng tương lai VN30F1706 với giá 710 điểm. B cũng phải ký quỹ ban đầu 7,1 triệu đồng.
Lệnh của nhà đầu tư A khớp với lệnh của Nhà đầu tư B tại giá hợp đồng tương lai chỉ số VN30 đáo hạn tháng 6 (VN30F1706), giao dịch tại giá 710 điểm chỉ số, hệ số nhân hợp đồng là 100.000 đồng.
Trên thị trường chứng khoán phái sinh, cơ chế thanh toán là thanh toán hàng ngày. Nhà đầu tư khi giao dịch và nắm giữ các vị thế trong các hợp đồng chứng khoán phái sinh sẽ phải thực hiện thanh toán toàn bộ lãi lỗ phát sinh từ các vị thế đó mỗi ngày.
Ví dụ đóng cửa phiên giao dịch ngày 03/06, VN30-Index giảm xuống còn 650 điểm. Nhà đầu tư A lỗ 5 triệu đồng. A phải thanh toán đầy đủ toàn bộ số lỗ phát sinh chậm nhất đến 9h sáng ngày hôm sau.
Do nhà đầu tư B ở vị thế đối nghịch, nên diễn biến tài khoản và biến động ký quỹ sẽ ngược lại với A.
Cần chú ý, khi giá trị ký quỹ của nhà đầu tư xuống thấp hơn mức cho phép (mức Ký quỹ Duy trì), nhà đầu tư phải nhanh chóng bổ sung ký quỹ. Nếu không bổ sung ký quỹ kịp thời, nhà đầu tư buộc phải đóng một phần/toàn bộ vị thế đang nắm giữ bằng việc đặt lệnh đối ứng trên thị trường.
Trong trường hợp 2 nhà đầu tư đều giữ đến ngày đáo hạn của hợp đồng, giả sử là ngày 22/06/2016, chỉ số VN30 đóng cửa tại 720 điểm và mức chỉ số đóng cửa này dùng làm giá thanh toán cuối cùng cho hợp đồng tương lai VN30F1706. Như vậy, Nhà đầu tư A dự đoán đúng, nhà đầu tư B dự đoán sai, mức lãi cuối cùng của NĐT A cũng như mức lỗ cuối cùng của NĐT B được xác định như sau:
Nhà đầu tư A lãi = (720-710)*100.000 đồng = 1 triệu đồng
Nhà đầu tư B lỗ = (720 – 710)*100.000 đồng = 1 triệu đồng

Khởi động cho Chứng khoán phái sinh: Khi người khác không hiểu, đó là cơ hội của bạnKhởi động cho Chứng khoán phái sinh: Khi người khác không hiểu, đó là cơ hội của bạnBan lãnh đạo doanh nghiệp và câu hỏi muôn thủa “các anh có bắt tay cùng đội lái không?”Ban lãnh đạo doanh nghiệp và câu hỏi muôn thủa “các anh có bắt tay cùng đội lái không?”Ông Nguyễn Duy Hưng: Đừng nghĩ rằng tiền chỉ có từng đây, cứ có hàng tốt bán ắt sẽ có người đến muaÔng Nguyễn Duy Hưng: Đừng nghĩ rằng tiền chỉ có từng đây, cứ có hàng tốt bán ắt sẽ có người đến muaĐầu tư theo chân Dominic Scriven và những khoản lợi nhuận "trong mơ"Đầu tư theo chân Dominic Scriven và những khoản lợi nhuận "trong mơ"Thị trường khởi sắc, lợi nhuận 2016 của Sở Giao dịch chứng khoán Tp.HCM tăng 34% lên 263 tỷ đồngThị trường khởi sắc, lợi nhuận 2016 của Sở Giao dịch chứng khoán Tp.HCM tăng 34% lên 263 tỷ đồngNhững ngày 1/2 số cổ phiếu trên thị trường có giá trên 100.000 đồng, nay còn đâu...Những ngày 1/2 số cổ phiếu trên thị trường có giá trên 100.000 đồng, nay còn đâu...Hai quỹ đầu tư lớn nhất Việt Nam thu lãi nghìn tỷ chỉ trong vài tháng nhờ mua Vietjet và Novaland trước khi lên sànHai quỹ đầu tư lớn nhất Việt Nam thu lãi nghìn tỷ chỉ trong vài tháng nhờ mua Vietjet và Novaland trước khi lên sànVietjet niêm yết, "người thay đổi ngành hàng không Việt Nam" trở thành phụ nữ giàu nhất thị trường chứng khoánVietjet niêm yết, "người thay đổi ngành hàng không Việt Nam" trở thành phụ nữ giàu nhất thị trường chứng khoánKhi Warren Buffett cũng gom mua cổ phiếu hàng không, giá nào cho Vietjet?Khi Warren Buffett cũng gom mua cổ phiếu hàng không, giá nào cho Vietjet?4 “bom tấn” có thể lên sàn chứng khoán trong năm 20174 “bom tấn” có thể lên sàn chứng khoán trong năm 2017Một loạt công ty chứng khoán lớn đang đối mặt nguy cơ rủi ro “ngân hàng ngầm”?Một loạt công ty chứng khoán lớn đang đối mặt nguy cơ rủi ro “ngân hàng ngầm”?Nếu mua cổ phiếu HAGL trước tết, nhà đầu tư đã có thể yên tâm “du xuân” với tỷ suất lợi nhuận cao bất ngờNếu mua cổ phiếu HAGL trước tết, nhà đầu tư đã có thể yên tâm “du xuân” với tỷ suất lợi nhuận cao bất ngờ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN Thứ 5, 18/05/2017, 09:34 AM Bán khống chứng khoán sắp được thực hiện tại Việt Nam, nhưng thực hiện như thế nào?

Bán khống trở thành công cụ tuyệt vời giúp nhà đầu tư kiếm lời, cũng như hạn chế rủi ro khi giao dịch chứng khoán.

Bán khống chứng khoán là một sản phẩm mà nhiều nhà đầu tư Việt Nam “mơ ước” được giao dịch công khai, bởi hiện nay do quy định của Ủy ban chứng khoán Nhà nước, hoạt động bán khống chưa được áp dụng trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nhà đầu tư chỉ có thể kiếm được lợi nhuận khi thị trường tăng điểm, mua trước bán sau. Nếu dự đoán sai, giá cổ phiếu đảo chiều trong khi chưa đủ T+2 về tài khoản, chúng ta chỉ biết chờ đợi đến ngày hàng về mới bán được.
Điều này có thể được giải quyết khi thị trường chứng khoán phái sinh đi vào hoạt động trong tháng 6 này. Khi đó, nhà đầu tư có thể bán chứng khoán (hợp đồng tương lai chỉ số) mặc dù không sở hữu cổ phiếu cơ sở. Bên cạnh đó, đặc tính ưu việt của sản phẩm này là nhà đầu tư có thể mua hoặc bán (T+0), miễn là nhà đầu tư có đủ tiền ký quỹ.
Chính vì thế, bán khống trở thành công cụ tuyệt vời giúp nhà đầu tư kiếm lời, cũng như hạn chế rủi ro khi giao dịch chứng khoán. Điều đó được thực hiện như thế nào?
Ví dụ, buổi sáng ngày 02/06/2017, nhà đầu tư A mua một số cổ phiếu nằm trong VN30 là HPG, VCB, VNM với giá trị 100 triệu đồng. Giá của hợp đồng tương lai chỉ số VN30 đang giao dịch là 690 điểm chỉ số. Bất ngờ trong thời gian nghỉ trưa, thị trường xuất hiện thông tin bất lợi khiến cho các cổ phiếu giảm giá và giá trị danh mục của nhà đầu tư sụt giảm.
Thay vì chỉ có thể nhìn danh mục cổ phiếu của mình sụt giảm như trước đây, khi có sản phẩm hợp đồng tương lai chỉ số, nhà đầu tư có thể thực hiện động tác bán 10 hợp đồng tương lai chỉ số VN30 với giá 690 điểm chỉ số. Với mức ký quỹ là 10%, số tiền nhà đầu tư bỏ ra là 69 triệu đồng.
Cuối ngày, giá trị danh mục (HPG, VCB, VNM) giảm xuống còn 94 triệu, nhà đầu tư lỗ 6 triệu đồng. Cùng xu hướng, giá của hợp đồng tương lai giảm xuống còn 685 điểm, nhà đầu tư lãi 5 triệu đồng. Như vậy, nhờ sản phẩm hợp đồng tương lai, tổng danh mục của nhà đầu tư không bị lỗ 6 triệu đồng, mà chỉ lỗ 1 triệu mà thôi.
Tuy nhiên, cần lưu ý, để thực hiện được chiến lược quản lý rủi ro này, nhà đầu tư phải lựa chọn được cổ phiếu hoặc nhóm cổ phiếu có tính đại diện cho chỉ số VN30 và các cổ phiếu này phải có mối tương quan chặt chẽ đối với chỉ số VN30, khi chỉ số tăng thì giá cổ phiếu cũng tăng và ngược lại.
Người ta thường căn cứ vào vào hệ số Beta (hệ số đo lường mối tương quan giữa giá cổ phiếu và chỉ số, Beta > 0 mối tương quan cùng chiều, Beta <0 mối tương quan ngược chiều). Để tính giá trị Beta các chuyên gia tài chính thường sử dụng phương pháp hồi quy giữa biến động giá chứng khoán và biến động chỉ số. Nhà đầu tư, có thể sử dụng kết quả tính toán chỉ số Beta được công bố tại các website tài chính.
Ngoài ra bản thân chỉ số VN30 và Hợp đồng tương lai trên chỉ số VN30 cũng phải có mối tương quan chặt chẽ, hay nói cách khách khi chỉ số VN30 tăng/giảm giá thì giá hợp đồng tương lai VN30 cũng phải tăng hoặc giảm giá theo.
Cuối cùng, để có thể thực hiện chiến lược quản trị rủi ro này thì thanh khoản các hợp đồng tương lai phải cao, để nhà đầu tư có thể dễ dàng mua bán.
Hiện tại, trong danh mục 30 cổ phiếu của chỉ số VN30, các cổ phiếu chiếm tỷ trọng lớn như VNM, GAS, MSN, VCB…., các cổ phiếu này biến động khá tương đồng đồng với chỉ số VN30, nhà đầu tư có thể sữ hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu để phòng ngừa rủi ro cho danh mục các cổ phiếu đó.

Thứ Ba, 16 tháng 5, 2017

Giao hàng miễn phí: 5 sai lầm cần tránh

Giao hàng miễn phí là một hình thức được nhiều doanh nghiệp sử dụng để thu hút và giữ khách hàng. Tuy nhiên, khi triển khai dịch vụ giao hàng miễn phí, doanh nghiệp cần cân nhắc và tránh những sai lầm sau:
1. Giao hàng miễn phí là hình thức khuyến mãi tốt nhất
 Trong khi giao hàng miễn phí thường được ca ngợi như là cách tốt nhất để thu hút khách hàng, thì những hình thức khuyến mãi khác cũng có thể giúp ích cho doanh nghiệp, thậm chí hiệu quả hơn.
Sau hai năm cung cấp dịch vụ giao hàng miễn phí cho khách hàng, David Kravetz – chủ một doanh nghiệp bán bánh nướng ở Phoenix (Arizona, Mỹ) đã quyết định làm một thí nghiệm. Họ dành cho khách hàng hai sự chọn lựa, hoặc được giảm 20% trên tổng giá trị đơn hàng hoặc được giao hàng miễn phí, và kết quả là số người chọn giảm giá nhiều gấp 2 lần. Thậm chí, những khách hàng đó đã mua nhiều hơn vì họ muốn tiết kiệm.
2Giao hàng miễn phí hoàn toàn, trong mọi trường hợp
 “Các doanh nghiệp nhỏ có thể mắc sai lầm lớn nếu áp dụng dịch vụ giao hàng miễn phí suốt năm cho tất cả đơn hàng, bất kể giá trị đơn hàng như thế nào”, Chris Malta - một chuyên gia về dịch vụ giao hàng nói. “Khi doanh số không được như mong muốn, mọi người nghĩ rằng cần có một phép màu nào đó và họ nghĩ đó nên là giao hàng miễn phí. Họ đi từ chỗ không có gì được giao miễn phí đến chỗ mọi thứ đều miễn phí”.
Thay vào đó, chuyên gia này đề xuất rằng doanh nghiệp có thể bắt đầu giao hàng miễn phí trong một khoảng thời gian được giới hạn để hấp dẫn khách mua hàng. Chẳng hạn, cứ mỗi 6 đến 8 tuần thì công ty của Kravetz có đợt giao hàng miễn phí chỉ kéo dài 3 ngày. Doanh nghiệp này cũng đưa ra ngưỡng tối thiểu cho giá trị đơn hàng để được giao hàng miễn phí.
3. Quy định ngưỡng tối thiểu cho giá trị đơn hàng quá cao
 “Nếu như giao hàng miễn phí cho những đơn hàng quá nhỏ có thể lấy mất lợi nhuận của bạn, thì cũng sẽ là sai lầm khi quy định ngưỡng tối thiểu cho giá trị đơn hàng quá cao”, John Lawson – một nhà tư vấn về thương mại điện tử nói.
Lawson đề xuất rằng nên hình dung trị giá của một đơn hàng trung bình và đặt ra mức tối thiểu cao hơn từ 10 – 15% để khuyến khích khách hàng mua nhiều hơn một ít so với thông thường. Chẳng hạn, nếu đơn đặt hàng trung bình trị giá 200 nghìn đồng, nên cân nhắc giá trị đơn hàng tối thiểu để được giao hàng miễn phí là 250 nghìn đồng chẳng hạn, thay vì là 500 nghìn đồng hoặc 1 triệu đồng.
4. Quảng bá giao hàng miễn phí như một thông điệp tiếp thị chính
 Các nhà bán lẻ thường dựa quá nhiều vào giao hàng miễn phí để bán sản phẩm của họ. Chắc chắn bạn vẫn nên làm cho “giao hàng miễn phí” trở thành một yếu tố đáng chú ý trên trang chủ, nhưng đừng “làm quá” chi tiết này và nhấn chìm những thông điệp quan trọng của thương hiệu và các sản phẩm cụ thể.
“Bạn đang bán sản phẩm, không bán dịch vụ giao hàng miễn phí”, Malta nói. Mọi sản phẩm phải có một thông điệp nhất quán đi cùng với thương hiệu. Khi bạn nói quá về điều gì đó chẳng hạn như giao hàng miễn phí, nó sẽ làm lu mờ mọi thứ khác.
5. Không nhắc để khách hàng biết là họ đang tiết kiệm được bao nhiêu
 Một khi bạn biến “giao hàng miễn phí” thành một phần của giao dịch, hãy để cho khách hàng biết chính xác họ tiết kiệm được bao nhiêu. Hầu hết các giỏ hàng trực tuyến đều có chức năng tính tự động chi phí giao hàng; như thế, khách hàng có thể thấy được họ sẽ phải tiêu tốn bao nhiêu nếu không có dịch vụ miễn phí và công nhận giá trị cụ thể mà họ nhận được.

Tài chính toàn diện là gì mà cần phải thúc đẩy tại Việt Nam?

(ĐTCK) Việt Nam cần có quan điểm và định hướng như thế nào về tài chính toàn diện?
Đây là vấn đề được đề cập xuyên suốt không chỉ trong khuôn khổ buổi Họp báo công bố sự kiện Banking Vietnam 2017 chiều ngày 15/5 tại Hà Nội, mà sẽ còn được trao đổi tiếp trong hai ngày 18 và 19/5 diễn ra sự kiện công nghệ ngân hàng thường niên do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và Tập đoàn Dữ liệu Quốc tế (IDG) phối hợp tổ chức tại TP. HCM.
Tài chính toàn diện (Financial Inclusion) là việc cung cấp dịch vụ tài chính phù hợp và thuận tiện cho mọi cá nhân và tổ chức, đặc biệt đối vơi người có thu nhập thấp và dễ bị tổn thương nhằm tăng cường cơ hội tiếp cận tài chính, góp phần tạo cơ hội sinh kế, luận chuyển dòng vốn đầu tư và tiết kiệm trong xã hội, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Tài chính toàn diện được coi là trụ cột quan trọng của tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo bền vững, góp phần huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội.
Chia sẻ tại buổi Họp báo Banking Vietnam tại Hà Nội, bà Nguyễn Thị Hòa, Phó Viện trưởng, Viện Chiến lược ngân hàng, NHNN Việt Nam cho biết, trong những năm gần đây, tài chính toàn diện đã trở thành một vấn đề được quan tâm trên phạm vi toàn cầu với mục tiêu phát triển hệ thống tài chính phục vụ cho tất cả các thành viên trong xã hội, cung cấp các dịch vụ phù hợp và thuận tiện với chi phí hợp lý cho mọi cá nhân và doanh nghiệp, qua đó góp phần vào sự phát triển bền vững của quốc gia.
Tài chính toàn diện (Financial Inclusion) là việc cung cấp dịch vụ tài chính phù hợp và thuận tiện cho mọi cá nhân và tổ chức, đặc biệt đối vơi người có thu nhập thấp và dễ bị tổn thương nhằm tăng cường cơ hội tiếp cận tài chính, góp phần tạo cơ hội sinh kế, luận chuyển dòng vốn đầu tư và tiết kiệm trong xã hội, qua đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.    
“Các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới, Nhóm các nước G20 đều rất chú trọng đến việc hỗ trợ và thúc đẩy các quốc gia thực thi các giải pháp để đạt được mục tiêu về tài chính toàn diện. Đã có 55 nước đưa ra cam kết về thực thi tài chính toàn diện, hơn 30 nước ban hành hoặc đang xây dựng chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện”, bà Hòa nói.
Đứng trước xu hướng chung đó, bà Hòa đặt vấn đề: “Việt Nam cần có quan điểm và định hướng như thế nào về tài chính toàn diện? Cùng với đó là xây dựng các giải pháp gì để đạt được mục tiêu này? Nhất là trong bối cảnh công nghệ số đang tạo nên những thay đổi nhanh chóng trong các hoạt động kinh tế - xã hội nói chung và hoạt động tài chính nói riêng, từ đó mang lại nhiều cơ hội để thực thi tài chính toàn diện nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn, với chi phí thấp hơn. Việt Nam có thể làm gì để sử dụng cơ hội này?”.
Tại Việt Nam, thông tin từ NHNN cho biết, đã có sự gia tăng đáng kể trong số lượng người trưởng thành có tài khoản tại các tổ chức tài chính chính thức, từ 21,3% năm 2012 lên 30,9% năm 2014, tuy nhiên, tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản tại các tổ chức tài chính chính thức tại Việt Nam vẫn thấp so với các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc là 78% và Thái Lan là 79%.
Thực tế cho thấy, việc tiếp cận dịch vụ tài chính ngân hàng chủ yếu phát triển ở các thành phố lớn, đô thị còn ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa tiếp cận dịch vụ tài chính ngân hàng còn rất hạn chế.
Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Gấm, Agribank cho biết, với hơn 70% dân số tập trung tại khu vực nông thôn, chiếm khoảng 72% lực lượng lao động nhưng tỷ lệ tiếp cận dịch vụ ngân hàng hiện đại là rất hạn chế.
“Dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn chiếm tỷ trọng tương đối cao so với tổng dư nợ cho vay nền kinh tế (chiếm khoảng 28%) nhưng chủ yếu do hệ thống Agribank, Quỹ tín dụng nhân dân, một số ngân hàng thương mại nhà nước còn các ngân hàng thương mại cổ phần khác vẫn còn e ngại. Tổng dư nợ cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn chưa đạt đến 25%”, bà Gấm cho biết.
Bà Tô Thị Diệu Loan, LienVietPostBank nhận định, con đường để đạt được mục tiêu tài chính toàn diện còn rất xa, nhưng thực tế triển khai tài chính ở Ấn Độ có thể thấy, tài chính số là xu hướng phát triển tất yếu để đạt được mục tiêu tài chính toàn diện.
Theo đó, Chính phủ cần có chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng điện tử và xác định vai trò, trách nhiệm của các bên tham gia đối với phát triển thị trường.
Ban hành quy định các chính sách an ninh bắt buộc đối với các nhà cung cấp dịch vụ tài chính số để giảm thiểu rủi ro thất thoát tài sản và dữ liệu.
“Có chính sách đầu tư vốn, công nghệ xây dựng trung tâm dữ liệu quốc gia, xây dựng hệ thống pháp lý quy định số hóa dữ liệu, cập nhật và cung cấp thông tin cho trung tâm dữ liệu”, bà Loan cho biết.
Về phía các ngân hàng thương mại, bà Loan cũng cho rằng, sự phát triển của tài chính số sẽ làm gia tăng sức ép cạnh tranh, do vậy, các ngân hàng thương mại cũng cần nhanh chóng tiếp cận và áp dụng các công nghệ tài chính số như các ứng dụng di động, dịch vụ ngân hàng trực tuyến.
Chủ động đầu tư vốn, nâng cấp hạ tầng công nghệ của ngân hàng tương thích với nền tảng tài chính số, đồng thời có chính sách đào tạo nâng cao chất lượng nhân sự có khả năng vận hành và làm chủ hệ điều hành, cơ sở dữ liệu ngày càng phức tạp.
“Nghiên cứu hợp tác với các tổ chức tài chính/phi tài chính xây dựng hệ thống ngân hàng đại lý nhằm mở rộng mạng lưới khách hàng tại các khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa”, bà Loan nhấn mạnh.

Thứ Hai, 15 tháng 5, 2017

Xóa tên bia Việt Nam, Heineken muốn thâu tóm doanh nghiệp đang lãi 4,1 nghìn tỉ/năm này?

Công ty TNHH Nhà máy bia Việt Nam (VBL) vừa có thông báo chính thức đổi tên thành Công ty TNHH Nhà máy bia Heineken Việt Nam. Sau khi đổi tên, Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (Satra) vẫn giữ 40% vốn liên doanh tại Heineken còn Heineken Asia Pacific giữ 60% vốn.

Ông Leo Evers, Tổng Giám đốc điều hành Nhà máy bia Heineken Việt Nam, cho biết sẽ bắt đầu áp dụng tên mới trên toàn bộ bao bì sản phẩm kể từ tháng 1/2017.
Những sản phẩm mang tên VBL sẽ tiếp tục lưu thông trên thị trường trong nửa đầu năm 2017 đều có chất lượng đồng nhất với sản phẩm mang tên mới Công ty TNHH Nhà máy bia Heineken Việt Nam.
Cơ cấu tổ chức quản lý và mô hình hoạt động sản xuất, kinh doanh và quyền sở hữu đối với các nhãn hiệu bia Heineken, Tiger, Larue, BGI, Bivina, Desperados, Affligem và nước táo lên men Strongbow Cider cũng được giữ nguyên.
Công ty TNHH Nhà máy bia Việt Nam (VBL) được thành lập vào năm 1991 là công ty liên doanh giữa Công ty TNHH Heineken Châu Á Thái Bình Dương (HAP) có trụ sở chính tại Singapore và Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (SATRA).
Với mức lợi nhuận khổng lồ hàng năm 4,1 nghìn tỉ đồng và nộp ngân sách 12,6 nghìn tỉ đồng của VBL, dư luận đang đặt dấu hỏi phải chăng đối tác nước ngoài trong liên doanh này đang muốn thâu tóm cổ phần của Satra và bước đi đầu tiên là xóa sổ thương hiệu bia Việt Nam?
Còn nhớ năm 2012, Heineken đã chi 6,3 tỉ USD để mua lại 40% cổ phần của tập đoàn Fraser & Neave (F&N) Singapore trong Asia Pacific Breweries (APB) - một trong những hãng bia lớn nhất Đông Nam Á và là nhà sản xuất bia Tiger.
Theo số liệu của Euromonitor, hơn 80% thị phần toàn thị trường bia Việt Nam hiện nằm trong tay của 3 doanh nghiệp là Sabeco, VBL (nay là Heineken) và Habeco.
Trong đó riêng Tổng công ty cổ phần Bia - Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) chiếm hơn 40% thị phần. Nếu như Sabeco vẫn là vua của phân khúc phổ thông thì VBL vẫn dẫn đầu ở phân khúc cao cấp.
Về lượng tiêu thụ bia của người Việt Nam, nếu như năm 2010, lượng tiêu thụ ở mức 6,6 lít/người/năm, giai đoạn 2003 - 2005 là 3,8 lít/người/năm, thì dự báo đến 2025, con số này sẽ tăng lên 7 lít/người/năm.
Như vậy chỉ sau 7 năm, từ vị trí thứ 8 ở châu Á (vào năm 2008) về mức tiêu thụ bia thì đến năm 2015 Việt Nam đã trở thành quốc gia dẫn đầu khu vực ASEAN về mức tiêu thụ bia và đứng thứ 3 châu Á. Đây là lý do để Heineken xác định Việt Nam là thị trường quan trọng thứ 2 của tập đoàn này.

Nguy cơ giao dịch nội gián trên Thị trường chứng khoán phái sinh


Ước mơ về sự ra đời TTCK phái sinh ở Việt Nam của nhiều người sắp trở thành hiện thực, nhưng kinh nghiệm của một số thị trường trong khu vực khiến người viết vừa mừng, vừa lo với bước ngoặt mới này.
Ở mặt lạc quan, tương tự như sản phẩm cho vay ký quỹ (margin), chứng khoán phái sinh dù ở dạng hợp đồng tương lai hay chứng quyền có bảo đảm (Covered Warrant) đều góp một phần quan trọng trong việc gia tăng tính thanh khoản và hấp dẫn cho TTCK.
Nhà đầu tư, cả tổ chức và cá nhân, có nhiều cơ hội để “vẫy vùng” hơn. Nhiều chiến lược giao dịch kết hợp tài sản cơ sở với chứng khoán phái sinh, hoặc kinh doanh chênh lệch giá có cơ hội được thực hiện và những kỹ thuật chỉ áp dụng với thị trường nước ngoài nay có thể đem về Việt Nam cho giới đầu tư “cọ xát” và kiếm tiền.
Trao đổi với một số người bạn đã từng làm việc ở nước ngoài và nay quay về thị trường Việt Nam, người viết cảm nhận được sự hào hứng về một sân chơi mới này.
Số liệu giao dịch từ các thị trường như Đài Loan, Trung Quốc hay Thái Lan cho thấy tính hấp dẫn của thị trường phái sinh với nhà đầu tư chứng khoán khi được triển khai. Nói đơn giản, hoạt động “lướt sóng” sẽ vui và hay hơn rất nhiều khi có phái sinh, nhất là khi thị trường còn giới hạn về bán khống. 
Cơ quan quản lý có thể phải chuẩn bị… “nước lạnh”
Tuy nhiên, đặc tính hấp dẫn của chứng khoán phái sinh cũng là điểm nguy hiểm tiềm tàng của nó, khi đây là một công cụ sử dụng đòn bẩy cao và đòi hỏi vốn bỏ ra ban đầu thấp. Tính khuếch đại thu nhập và lời lỗ của chứng khoán phái sinh có thể cao hơn sử dụng cho vay ký quỹ nhiều lần, tùy theo độ “mở” của nhà quản lý và tính sáng tạo của người dùng công cụ.
Sự tồn tại của chứng khoán phái sinh và margin trên thị trường mở ra cơ hội cho những phương thức lách những công cụ quản lý về đòn bẩy một cách tinh vi nhất.
Mặt khác, khi chứng khoán tăng điểm mạnh thì giao dịch trên thị trường phái sinh cũng trở nên phấn khích quá mức, dẫn đến tình trạng “bong bóng”. Trung Quốc đã phải gánh chịu nhiều hậu quả từ những đợt bong bóng chứng quyền giai đoạn 2005 - 2008.
Trong giai đoạn này, cổ phiếu Trung Quốc tăng điểm mạnh, giá những sản phẩm phái sinh như chứng quyền cũng bứt phá ra khỏi các nguyên tắc cơ bản.
Một nghiên cứu của Trường đại học New York chỉ ra rằng, trong giai đoạn 2005 - 2008, có những chứng quyền chắc chắn lỗ nhưng vẫn tăng giá không ngừng và giá thị trường của chúng cao hơn hàng trăm lần so với kết quả mà công thức định giá chứng khoán phái sinh đưa ra.
Bài học từ Trung Quốc là bong bóng của thị trường phái sinh có thể được bơm lên cấp số nhân so với bong bóng của thị trường cổ phiếu cơ sở. Điều nguy hiểm là nhiều người chạy theo quả bong bóng đó mà không có kiến thức về chứng khoán phái sinh, với hy vọng rằng sẽ kiếm được tiền trước khi bong bóng vỡ. Tình trạng tương tự đã từng xảy ra ở Việt Nam khi chỉ số VN-Index tăng lên hơn 1.000 điểm hay những đợt tăng giá nhờ margin trước đây.
Đòn bẩy tài chính và bong bóng là hai khái niệm không thể tách rời với sản phẩm phái sinh. Mặc dù vậy, không thể vì thế mà không triển khai sản phẩm này. Vấn đề là cơ quan quản lý cần giám sát chặt chẽ hoạt động giao dịch phái sinh, đặc biệt là của những định chế đầu tư nhận tiền ủy thác của nhà đầu tư để giao dịch phái sinh và các công ty chứng khoán.
Nếu công ty chứng khoán bị cuốn vào dòng xoáy mua bán chứng khoán phái sinh bằng tiền của mình và thua lỗ quá nặng thì cần phải đảm bảo những sự cố đó không tạo ra những ảnh hưởng có tính hệ thống đến thị trường (như khiến nhà đầu tư bị mất tiền vì công ty chứng khoán vỡ nợ hoặc thị trường mất thanh khoản). Để làm được điều đó, yêu cầu áp dụng những chuẩn mực khắt khe lên an toàn vốn và tự doanh phái sinh của công ty chứng khoán phải đặt lên hàng đầu.
Ở một khía cạnh khác, sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh mở ra một kênh để các công ty chứng khoán gia tăng việc cho vay ký quỹ dưới dạng các công cụ phái sinh phức tạp nhằm “lách” các quy định về margin. Việc này đã từng xảy ra ở nhiều thị trường như Mỹ, Trung Quốc (ví dụ, công ty chứng khoán hàng đầu của Trung Quốc là Citic Securitites sử dụng các sản phẩm hoán đổi cổ phiếu để lách quy định cho vay ký quỹ bị phanh phui năm 2015).
Nhìn chung, sự phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh sẽ kéo theo những giao dịch lách luật ngày càng tinh vi để “kéo khách” và đẩy mạnh tài trợ vốn cho đánh cược trên TTCK. “Quy luật” này đã được kiểm chứng tại nhiều thị trường từ Mỹ đến Trung Quốc và khó có thể thay đổi ở thị trường Việt Nam.
Vấn đề sẽ chỉ ở chỗ cân bằng giữa trình độ phát triển của thị trường, nhu cầu “thu hút khách” đến TTCK và an toàn hệ thống. Cân bằng những yếu tố này là cực kỳ khó khăn, nhất là khi thị trường đang hưng phấn mà cơ quan quản lý phải đóng vai trò người “tạt nước lạnh” kịp lúc. 
Cần tăng nguồn lực quản lý để hạn chế nguy cơ giao dịch nội gián
Một trong những băn khoăn lớn nhất của người viết nằm ở vấn đề nguồn lực để vận hành cũng như kiểm soát thị trường chứng khoán phái sinh (trọng tâm là nguồn nhân lực và công nghệ) và nguy cơ giao dịch nội gián.
Với một thị trường hấp dẫn và phức tạp hơn đang hình thành, nhóm các công ty chứng khoán và quỹ đầu tư chắc chắn đang tích cực chuẩn bị nguồn nhân lực và công nghệ để tham gia cuộc chơi mới, ra sản phẩm mới. Với nguồn lực tư nhân, họ hoàn toàn có thể lôi kéo nhân tài từ bên ngoài về và đầu tư những công nghệ tốt nhất. Câu hỏi đặt ra, cơ quan quản lý làm thế nào có đủ nguồn lực để giám sát các tay chơi ngày càng thông minh sẽ gia nhập thị trường?
Đây không chỉ là câu hỏi cho thị trường Việt Nam mà còn cho hầu hết các nước khác. Cho đến bây giờ, một sự thật là ở hầu hết các nước, cơ quan quản lý thị trường chứng khoán không có đủ nguồn lực để chạy đua với các tổ chức kinh doanh. Thực tế, từ Mỹ tới Trung Quốc, các tổ chức kinh doanh luôn đi trước một bước và giao dịch nội gián là một trong những mảng tối hết sức phức tạp.
Sự phát triển của thị trường chứng khoán phái sinh mở ra cơ hội cho những giao dịch nội gián dưới hình thức mua bán sản phẩm phái sinh. Làm thế nào để kiểm soát giao dịch chứng quyền của cổ đông lớn và cổ đông nội bộ của một công ty niêm yết sẽ khó hơn nhiều lần so với thị trường cổ phiếu cơ sở. Và tìm kiếm bằng chứng của những giao dịch phức tạp kết hợp giao dịch cổ phiếu và chứng quyền để hưởng lợi từ thông tin nội gián cũng sẽ phức tạp và tốn nhiều thời gian hơn. Tại Việt Nam, khuôn khổ pháp lý và nguồn lực quản lý đã sẵn sàng cho chuyện này?
Tuy còn nhiều băn khoăn với những câu hỏi khi thị trường chứng khoán phái sinh đi vào hoạt động, nhưng người viết vẫn tin rằng, đây là một trang mới quan trọng của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Sẽ có nhiều câu chuyện về sự thành công của nhà đầu tư, những đợt sóng mới, có thể là cả bong bóng và những vụ giao dịch nội gián, nhưng chúng đều góp phần giúp cơ quan quản lý và các thành viên thị trường gia tăng hiểu biết để hội nhập tốt hơn.
Vì thế, thay vì chỉ dám đứng xa để nhìn một sản phẩm công nghệ hiện đại, Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn thực sự sử dụng nó. Nếu có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và thận trọng trong khi sử dụng chứng khoán phái sinh, sẽ tận dụng được các cơ hội, hạn chế được rủi ro.
Bài viết được đăng tải trên Đặc san 20 năm ngành chứng khoán, ấn phẩm do Báo Đầu tư xuất bản, tháng 11/2016.

Cover warrant: Làm gì để kiếm được tiền trong thị trường giá xuống? (Bài 4)

Bài 1: Chứng quyền có bảo đảm – Sản phẩm mới trên thị trường chứng khoán Việt Nam


1. Giao dịch CW – Sân chơi mới cho nhà đầu tư thích rủi ro

Như đã đề cập, chứng quyền là sản phẩm có có tính đòn bẩy cùng khả năng sinh lời cao hơn so với cổ phiếu thông thường, hứa hẹn tạo ra thị trường hấp dẫn cho các nhà đầu tư có khẩu vị rủi ro cao. Tuy nhiên, như một tính chất luôn song hành, sản phẩm có tính đòn bẩy cao đồng thời là sản phẩm ẩn chứa nhiều rủi ro. Vì vậy, chứng quyền không phải là sản phẩm phù hợp với tất cả các loại hình nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư có khẩu vị rủi ro thấp.

Các lợi điểm của đầu tư chứng quyền

Sự xuất hiện của chứng quyền giao dịch trên thị trường sẽ cung cấp cho các nhà đầu tư thêm một lựa chọn đầu tư với chi phí thấp so với cổ phiếu trong khi vẫn có thể tối ưu hóa lợi nhuận thu được từ biến động giá của chứng khoán cơ sở. Hiệu ứng đòn bẩy có thể mang lại cho nhà đầu tư một tỷ lệ lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) lớn hơn, trong khi mức phí tổn do lỗ vốn được khống chế tối đa bằng mức chi phí đầu tư ban đầu (phí mua chứng quyền).
Ví dụ: Cổ phiếu BBB đang được giao dịch trên HOSE với giá 120.000 VNĐ/cổ phiếu. Cùng lúc có chứng quyền mua BBBC0918 giao dịch trên thị trường với giá 11.000VNĐ/chứng quyền. Chứng quyền BBC0918 kiểu Châu Âu, cung cấp quyền mua cổ phiếu BBB tại mức giá 140.000VNĐ/cổ phiếu, ngày đáo hạn 30/09/2018.
Nhà đầu tư A đầu tư mua 1000 cổ phiếu BBB. Tổng giá trị đầu tư = 1000 x 120.000 = 120 triệu VNĐ.
Nhà đầu tư B đầu tư mua 1000 chứng quyền BBBC0918, tổng giá trị đầu tư = 1000 x 11.000 = 11 triệu VNĐ.
Giả sử tại ngày đáo hạn (30/9/2018) giá của cổ phiếu BBB là 160.000 VNĐ/cổ phiếu. Theo đó:
Nhà đầu A có mức sinh lời = 1000 x (160.000 – 120.000) = 40 triệu VNĐ. Tỉ suất sinh lời = 40 triệu/ 120triệu = 33,33%.
Nhà đầu tư B có mức sinh lời = 1000 x (160.000 – 140.000) – 11 triệu = 9 triệu VNĐ. Tỉ suất sinh lời = 9 triệu/ 11 triệu = 81,82%.
Bên cạnh lợi điểm từ bản chất của chứng quyền trong việc hạn chế mức lỗ tối đa, chi phí đầu tư thấp hơn so với đầu tư vào cổ phiếu, CW được ưa chuộng nhờ có đặc điểm lai giữa cổ phiếu và phái sinh, vừa được giao dịch như một loại cổ phiếu vừa là công cụ phòng vệ rủi ro cho nhà đầu tư trước những biến động của TTCK.
Ngoài ra chứng quyền còn có những lợi thế ưu đãi của sản phẩm mới trên thị trường. Theo Thông tư 107/2016/TT-BTC ngày 29/06/2016 Hướng dẫn chào bán và giao dịch chứng quyền có bảo đảm, chứng quyền được cung cấp thanh khoản bởi tổ chức tạo lập thị trường. Theo đó, thanh khoản của chứng quyền được cải thiện đáng kể do sự chủ động của tổ chức tạo lập thị trường trong việc đặt lệnh và nghĩa vụ của tổ chức tạo lập thị trường trong điều kiện chỉ có lệnh một chiều, khoảng cách giữa lệnh mua và lệnh bán quá chênh lệch…
Đồng thời, nhà đầu tư còn có thể hưởng lợi thế của việc giảm phí giao dịch mà các công ty chứng khoán, chính sách pháp luật đối với sản phẩm mới trên thị trường.

Các rủi ro đi kèm

Bên cạnh sức hấp dẫn được tạo ra bởi yếu tố đòn bẩy, nhà đầu tư cần hiểu được các rủi ro đi kèm trong giao dịch chứng quyền đồng thời xác định được khẩu vị rủi ro của bản thân trước khi quyết định đầu tư.
Do tính chất đòn bẩy của chứng quyền, sự thay đổi của giá chứng khoán cơ sở tác động lên chứng quyền ở một tỉ lệ % lớn hơn. Nói cách khác, chứng quyền sẽ nhạy cảm hơn đối với các thông tin tốt, xấu của chứng khoán cơ sở và theo đó, mức sinh lời, rủi ro đối với chứng quyền cũng cao hơn.
Mặt khác, như đã đề cập ở bài trước, vì phương thức giao dịch CW hoàn toàn giống cổ phiếu nên nhà đầu tư nhiều lúc bỏ quên đặc tính sản phẩm là có vòng đời giới hạn. Thời gian tồn tại của CW do tổ chức phát hành quy định trước và công bố thông tin theo mỗi đợt phát hành. Thông thường thời gian tồn tại của CW là ngắn hạn từ 3 tháng đến 24 tháng (tối đa là 5 năm nhưng thời hạn này hiếm khi được phát hành). Sau thời hạn này, CW sẽ không được giao dịch hay thực hiện quyền nữa.
Với ví dụ trên, giả sử tại ngày đáo hạn (30/9/2018) giá của cổ phiếu BBB là 110.000 VNĐ/cổ phiếu. Theo đó, chứng quyền được xác định ở vị thế OTM, Nhà đầu tư B có mức lỗ chính bằng khoản đầu tư (11 triệu VNĐ).
Mặc dù khả năng thua lỗ xấu nhất đã được xác định tối đa bằng chi phí bỏ ra ban đầu để mua chứng quyền, việc mất toàn bộ số tiền đã đầu tư vẫn có thể là điều mới lạ đối với đa số các nhà đầu tư không chuyên tại Việt Nam vốn chỉ quen với việc đầu tư vào cổ phiếu, loại chứng khoán không có thời hạn và có quyền tự quyết đối với ngày chốt lời, cắt lỗ.
Bên cạnh đó, nhà đầu tư cũng cần lưu ý đến rủi ro phát sinh khi nhà phát hành bị phá sản hoặc gặp khó khăn về tài chính dẫn đến không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nhà đầu tư khi CW đến hạn. Chính vì vậy, trước khi mua CW, nhà đầu tư phải tìm hiểu kỹ về tình trạng tài chính của nhà phát hành và không nên giao dịch CW khi còn nghi ngờ về năng lực tài chính của họ.

2. Những điều lưu ý khác khi đầu tư CW

Ba trạng thái đầu tư của CW

Tương tự như quyền chọn, có ba trạng thái quan trọng của CW mà nhà đầu tư cần chú ý. Bởi vì nó không chỉ ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị của một CW. Ba trạng thái đó bao gồm: ITM (in-the-money), ATM (atthe-money), OTM (out-of the-money). Cách xác định ba trạng thái này là khác nhau đối với chứng quyền mua hoặc chứng quyền bán.
* Đối với chứng quyền mua: Vào thời điểm đáo hạn hay trong bất cứ thời điểm nào khi CW còn hiệu lực, nếu giá chứng khoán cơ sở lớn hơn giá thực hiện (S>X), ta gọi CW mua đang ở trạng thái lời (ITM); nếu giá chứng khoán cơ sở nhỏ hơn giá thực hiện (S
* Đối với chứng quyền bán: Vào thời điểm đáo hạn hay trong bất cứ thời điểm nào khi CW còn giá trị, nếu giá chứng khoán cơ sở lớn hơn giá thực hiện (S>X), ta gọi CW bán đang ở trạng thái lỗ (OTM); nếu giá chứng khoán cơ sở nhỏ hơn giá thực hiện (S

Giá trị của chứng quyền

Một trong những yếu tố quan trọng đối với nhà đầu tư khi tham gia đầu tư và giao dịch chứng quyền là phải hiểu được “giá CW” (premium) được xác định như thế nào.
Đầu tiên, cần xác định rằng:
Giá trị CW (premium) = Giá trị nội tại + Giá trị thời gian.
Chúng ta sẽ cùng nhau làm rõ hơn về hai thành tố này: giá trị nội tại và giá trị thời gian như sau.
Trước tiên, Giá trị nội tại: Tức là giá trị tự bản thân của CW có, không bị mất đi theo thời gian. Giá trị này chỉ bị ảnh hưởng khi giá chứng khoán cơ sở thay đổi, và với các CW nào ở trạng thái (ITM) thì mới có giá trị nội tại. Tại các trạng thái OTM và ATM, CW không có giá trị nội tại mà chỉ có giá trị về thời gian.
Giá trị thời gian: Tức là giá trị từ lúc CW được phát hành cho đến khi CW đáo hạn. Điều đó có nghĩa là tất cả CW đều có giá trị thời gian bất kể trạng thái ITM, ATM hay OTM. Càng gần thời điểm đáo hạn, giá trị thời gian của CW sẽ giảm đi và trở về 0 khi CW đáo hạn.

Định giá CW

Khi được giao dịch trên thị trườn thứ cấp, bên cạnh tác động của cung – cầu CW trên thị trường, giá của CW còn chịu tác động bởi các yếu tố đặc thù như:
- Giá của chứng khoán cơ sở: Đây là tham chiếu để xác định giá trị nội tại của CW.
- Thời gian đến khi đáo hạn, có nghĩa khoảng thời gian từ thời điểm xác định giá đến ngày đáo hạn của chứng quyền. Khoản thời gian càng dài thì CW càng có giá trị (thời gian) cao.
- Độ biến động của chứng khoán cơ sở: Độ biến động càng cao thì giá CW sẽ càng cao.
- Giá thực hiện (exercise price).
- Lãi suất phi rủi ro.
- Cổ tức.
Các yếu tố trên là các biến đầu vào của các mô hình định giá CW, được sử dụng tương tự như mô hình định giá quyền chọn: mô hình Black-Scholes hoặc mô hình nhị phân (binomial-model). Trong các nhân tố trên, độ biến động của chứng khoán cơ sở và lãi suất phi rủi ro là hai nhân tố quan trọng nhất và khó xác định nhất, phụ thuộc vào kinh nghiệm của nhà đầu tư và công ty chứng khoán trên thị trường.

3. Phân biệt CW với một số sản phẩm chứng khoán khác

Cùng với chứng quyền có bảo đảm, quyền chọn (option) và chứng quyền công ty (traditional/equity warrant) là những sản phẩm có một số đặc điểm tương đồng nhưng về bản chất đây là những sản phẩm khác nhau. Vậy, giữa các sản phẩm này có những điểm chung gì? Làm sao để phân biệt được các sản phẩm này trên thị trường chứng khoán?
Có thể nói điểm chung dễ thấy nhất đối với cả 03 sản phẩm trên là người sở hữu sẽ có quyền (mà không phải nghĩa vụ) được mua cổ phiếu cơ sở với mức giá được xác định trước tại một thời điểm đã được ấn định. Vậy, giữa chúng khác nhau như thế nào? Làm sao để phân biệt? Chúng ta sẽ xem xét những yếu tố chính dưới đây.
 Tổ chức phát hành: nếu như quyền chọn cổ phiếu là sản phẩm được Sở Giao dịch Chứng khoán thiết kế với các điều khoản được chuẩn hóa thì chứng quyền có bảo đảm chỉ được phát hành bởi các tổ chức tài chính (mà thường là các công ty chứng khoán), trong khi đó chứng quyền công ty là sản phẩm thường được các công ty niêm yết phát hành và thường được phát hành kèm theo việc phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi. Bên cạnh đó, khi phát hành các sản phẩm, Sở Giao dịch không thu bất cứ khoản phí nào cho việc thiết kế và niêm yết quyền chọn cổ phiếu, trong khi đó tổ chức phát hành chứng quyền được khoản tiền từ việc bán CW.
 Tài sản cơ sở: Tài sản dùng làm cơ sở cho cả quyền chọn và chứng quyền có bảo đảm bao gồm nhiều loại như: cổ phiếu đơn lẻ, chỉ số chứng khoán, ETF, tiền tệ,... hay các loại hàng hóa khác. Trong khi đó, tài sản cơ sở cho chứng quyền công ty chỉ là cổ phiếu phổ thông của chính công ty đó.
 Giá thực hiện: Cả quyền chọn cổ phiếu và chứng quyền có bảo đảm đều có thể có nhiều mức giá thực hiện tùy thuộc vào từng điều kiện đã được xác lập trước đó cho mỗi đợt phát hành còn chứng quyền công ty chỉ có một mức giá thực hiện.
 Vị thế giao dịch: Khi niêm yết, đối với quyền chọn cổ phiếu nhà đầu tư có thể bán quyền chọn khi không sở hữu những quyền chọn này còn đối với chứng quyền có bảo đảm hay chứng quyền công ty, nhà đầu tư chỉ được bán chứng quyền có bảo đảm khi đã sở hữu nó.
 Điều khoản của sản phẩm: Điều khoản của quyền chọn cổ phiếu được các Sở Giao dịch Chứng khoán thiết kế dựa trên những điều khoản đã được chuẩn hóa về cấu trúc, quy mô, điều khoản về thực hiện quyền và chuyển giao tài sản cơ sở, trong khi đó đối với chứng quyền có bảo đảm và chứng quyền công ty, những điều khoản của sản phẩm sẽ do tổ chức phát hành (Công ty chứng khoán hay công ty) quy định, và những điều khoản này có thể sẽ khác nhau đối với từng sản phẩm mà họ phát hành.
 Chuyển giao tài sản khi thực hiện quyền: Quyền chọn cổ phiếu là hợp đồng giữa một bên là những cá nhân hay tổ chức tài chính sẵn sàng mua cổ phiếu với một bên là những cá nhân hay tổ chức tài chính cũng sẵn sàng bán cổ phiếu tại một mức giá cụ thể. Vì vậy, khi thực hiện quyền việc chuyển giao tài sản sẽ được thực hiện bởi các nhà đầu tư.
Đối với Chứng quyền có bảo đảm, do tổ chức phát hành là các tổ chức tài chính (công ty chứng khoán) nên việc chuyển giao tài sản khi thực hiện quyền được thực hiện bởi công ty chứng khoán với những người sở hữu chứng quyền có bảo đảm.
Đối với chứng quyền công ty, khi đến hạn, những người sở hữu chứng quyền muốn thực hiện quyền sẽ yêu cầu công ty phát hành thêm cổ phiếu mới và việc chuyển giao tài sản sẽ được thực hiện bởi công ty phát hành với nhà đầu tư. Một điểm khác biệt nữa giữa các sản phẩm này đó chính là khi thực hiện quyền bằng chuyển giao tài sản cơ sở, quyền chọn cổ phiếu và chứng quyền có bảo đảm không làm gia tăng vốn đối với tổ chức phát hành tài sản cơ sở, ngược lại vốn của tổ chức phát hành cổ phiếu cho nhà đầu tư sở hữu chứng quyền công ty sẽ gia tăng.
Sự phát triển của thị trường và sự ra đời của các sản phẩm mới cho phép nhà đầu tư có nhiều lựa chọn công cụ đầu tư mà chứng quyền có bảo đảm cũng không là ngoại lệ.
Nhà đầu tư cần trang bị cho mình kiến thức tốt về sản phẩm, nắm bắt xu hướng thị trường đồng thời xác định được khẩu vị rủi ro của bản thân, từ đó tìm ra được các chiến lược đầu tư phù hợp nhất đối sản phẩm đầy hấp dẫn này.