Thứ Hai, 17 tháng 7, 2017

HIỆN TƯỢNG DELPHIC - CHU KỲ TĂNG / GIẢM GIÁ

Hiện tượng Delphic – Tín hiệu tăng giá mạnh bằng đường trung bình di động MA

Chủ Nhật, 11 tháng 6, 2017

“Ma lực” của chứng khoán phái sinh: Cùng một tình huống, tỷ suất sinh lời của hợp đồng tương lai gấp 7 lần cổ phiếu

Tuy nhiên, trong trường hợp bị lỗ thì khoản lỗ của hợp đồng tương lai chỉ số cũng cao gấp nhiều lần khi mua cổ phiếu.

Lợi thế đòn bẩy là một đặc điểm khác biệt của Chứng khoán phái sinh đối với các chứng khoán cơ sở. Về cơ bản, khi tham gia giao dịch Hợp đồng tương lai, nhà đầu tư chỉ phải bỏ ra một khoản tiền (Ký quỹ) có giá trị nhỏ hơn giá trị của hợp đồng mà nhà đầu tư muốn tham gia (giá trị hợp đồng).
Ví dụ: NĐT có nhu cầu tham gia vị thế mua 01 HĐTL trên chỉ số HNX30 đáo hạn vào tháng 5/2016. NĐT đặt lệnh mua 01 hợp đồng với giá chào mua là 103 điểm và được khớp trên thị trường với giá trên. Như vậy, nhà đầu tư đã được Trung tâm thanh toán bù trừ (TTTTBT) ghi nhận là đã tham gia 01 vị thế mua với giá 103 điểm.
Nếu tại mẫu hợp đồng tương lai chỉ số HNX30 quy định: Hệ số nhân của 01 hợp đồng là 1 triệu đồng/điểm chỉ số thì giá trị 01 hợp đồng của NĐT trên bằng:
103 điểm x 1 triệu đồng/điểm chỉ số = 103 triệu đồng.
Tuy nhiên, nếu mức ký quỹ ban đầu được quy định là 15% thì thay vì việc phải bỏ ra 103 triệu, NĐT chỉ phải bỏ ra số tiền và/hoặc tài sản có giá trị = 103 triệu *15% = 15,45 triệu đồng để tham gia hợp đồng.
Số tiền ký quỹ ban đầu này sẽ được TTTTBT sử dụng trong việc tính toán lãi/lỗ của NĐT. Ví dụ: khi giá HĐTL tăng từ 103 lên 105 điểm, NĐT đang có lãi với giá trị bằng: (105-103)*1 triệu đồng/điểm chỉ số = 2 triệu đồng.
Giá trị ký quỹ của nhà đầu tư sẽ tăng: 15,45 triệu + 2 triệu = 17,45 triệu đồng.
Nếu như giao dịch tại thị trường cơ sở thì phần trăm lãi của NĐT trên số tiền ban đầu bỏ ra sẽ chỉ bằng: (105-103)/103*100%=1,94%.
Tuy nhiên, đối với HĐTL thì phần trăm lãi của NĐT sẽ bằng: (105-103)/15,45*100%= 12,95%.
Như vậy có thể thấy, một biến động nhỏ về giá của HĐTL có thể tạo ra hiệu ứng lãi/lỗ trên khoản đầu tư lớn hơn nhiều so với việc đầu tư vào các chứng khoán cơ sở.
Tuy nhiên, đây là trường hợp NĐT có lãi. Lợi thế đòn bẩy được coi là con dao 2 lưỡi với nhà đầu tư. Khi giá của HĐTL biến động theo chiều hướng có lợi (ví dụ: Giá HĐ tăng đối với NĐT nắm vị thế mua và giá HĐ giảm đối với NĐT nắm vị thế bán), thì NĐT có thể ghi nhận một khoản lãi lớn trên giá trị ký quỹ ban đầu. Nhưng ngược lại, khi giá HĐ biến động theo chiều hướng bất lợi, NĐT có thể sẽ phải chịu những khoản thiệt hại lớn trên khoản ký quỹ trong thời gian ngắn.
Cũng ví dụ trên nếu giá HĐTL giảm từ 103 xuống 100, thì nhà đầu tư A lỗ: (103-100)*1 triệu đồng= 3 triệu đồng.
Giá trị ký quỹ giảm còn 12,45 triệu đồng, tương ứng mất(3/15,45=19,4%)
Trong khi khoản lỗ trên thị trường cơ sở chỉ là 2,9%.

Các cách thức thao túng giá trên thị trường chứng khoán phái sinh

Trên thế giới, các đối tượng thao túng giá thường sử dụng hai hình thức để kiếm lợi, mua bán kéo giá chứng khoán tài sản cơ sở để thu lợi trên thị trường phái sinh hoặc kéo giá trên thị trường phái sinh để thu lợi trên thị trường cơ sở.

Các sản phẩm phái sinh được xây dựng dựa trên các tài sản cơ sở, tài sản cơ sở có thể là chỉ số, cổ phiếu đơn lẻ, các sản phẩm hàng hóa như cao su, hạt điều, cà phê…, do đó diễn biến giá của sản phẩm phái sinh và giá hàng hóa cơ sở thường có mối tương quan chặt chẽ với nhau.
Đặc biệt, gần đến ngày thanh toán cuối khi sử dụng giá cơ sở để làm giá thanh toán cuối cùng cho các sản phẩm phái sinh. Chính vì lý do này, nhiều đối tượng đã sử dụng các phương pháp khác nhau để thao túng giá nhằm kiếm lợi nhuận trên thị trường phái sinh hoặc trên thị trường cơ sở.
Trên thế giới, các đối tượng thao túng giá thường sử dụng hai hình thức để kiếm lợi, mua bán kéo giá chứng khoán tài sản cơ sở để thu lợi trên thị trường phái sinh hoặc kéo giá trên thị trường phái sinh để thu lợi trên thị trường cơ sở.
Thao túng trên thị trường cơ sở để kiếm lợi trên TTCK phái sinh
Đây là hình thức thao túng khá phổ biến trên thị trường thế giới, do đặc điểm của các sản phẩm phái sinh là đến ngày đáo hạn thường sử dụng giá tài sản cơ để làm giá thanh toán cuối cùng. Mục tiêu của các đối tượng này là kiếm lợi trên thị trường phái sinh nhờ tác động vào giá thanh toán cuối cùng của tài sản cơ sở.
Để đạt được mục tiêu trên các đối tượng thao túng thường thực hiện như sau, mua hoặc bán một lượng lớn hợp đồng tương lai hoặc hợp đồng quyền chọn trên thị trường phái sinh và nắm giữ đến ngày thanh toán cuối cùng.
Gần đến ngày đáo hạn, tùy vào vị thế mà nhà đầu tư đang sở hữu để tác động giá vào tài sản cơ sở, nếu nhà đầu tư sở hữu vị thế mua trên thị trường tương lai thì sẽ tác động đẩy giá lên trên thị trường cơ sở và ngược lại.
Ví dụ: Ngày 01/08/2017 Nhóm nhà đầu tư tổ chức A sở hữu 100.000 vị thế mua hợp đồng VN30F1708 (hợp đồng tương lai chỉ số VN30 đáo hạn vào tháng 8), với giá 700 điểm chỉ số, giả sử mức ký quỹ là 10% và hệ số nhân hợp đồng là 100.000 đồng, nhóm nhà đầu tư này bỏ ra 700 tỷ đồng để ký quỹ, hợp đồng này sẽ đáo hạn vào ngày 17/08/2017 (ngày thứ 5 thứ 3 của tháng đáo hạn). Giá thanh toán cuối cùng sẽ xác định là giá đóng cửa của chỉ số VN30 tại ngày 17/08/2017, giả sử ngày giao dịch cuối cùng sau khi kết thúc phiên khớp lệnh liên tục chỉ số VN30 đang ở mức 712 điểm, mục tiêu của của ban đầu của nhóm này là cần giá thanh toán của VN30F1708 ở mức 720 điểm.
Trong phiên khớp lệnh định kỳ, sau khi cân nhắc tính toán chi phí lợi ích, nhóm nhà đâu tư thực hiện chất lệnh mua tại các cổ phiếu có tỷ trọng vốn hóa lớn trong VN30 để kéo chỉ số này lên so với mục tiêu ban đầu VN30 đóng cửa 720 điểm. Với hành vi này nhà nhóm nhà đầu tư A đã thu về (720-700)*100.000*100.000 =200 tỷ.
Hình thức thao túng giá này, đối với sản phẩm hợp đồng tương lai trên chỉ số cần phải có một lượng tiền rất lớn, các đối tượng thao túng phải tổ chức, hoặc nhóm tổ chức, đối với các nhân khó thực hiện được, thường hành vi thao túng này thường được áp dụng cho các hợp đồng quyền chọn hoặc hợp đồng tương lai trên cổ phiếu đơn lẻ và chuyển giao bằng vật chất.
Thao túng giá trên thị trường phái sinh để kiếm lợi trên thị trường cơ sở
Trái ngược với hình thức trên, các đối tượng sử dụng hình thức này sẽ tác động vào thị trường phái sinh để kiếm lợi trên trường cơ sở, hình thức này thường xảy ra đối với các hợp đồng phái sinh chuyển giao vật chất, vì bản chất đến ngày đáo hạn các hợp đồng tương lai phải có tài sản cơ sở để chuyển giao đối với bên bán, đặc biệt các hợp đồng được bán khống với khối lượng lớn.
Nhóm nhà đầu tư A đang sở hữu một lượng lớn cổ phiếu VNM trên thị trường cơ sở, do đó, đến gần ngày thanh toán họ thực hiện mua hợp đồng tương lai cổ phiếu VNM chuyển giao vật chất trên thị trường phái sinh, đến ngày thanh toán vì không đủ lượng cổ phiếu để chuyển giao trên thị trường vật chất, nhà đầu tư nắm giữ vị thế bán khống hợp đồng tương lai phải thực hiện mua trên thị trường cơ sở sẽ đẩy giá cổ phiếu VNM tăng cao, nhóm nhà đầu tư A sẽ bán ra lượng cổ phiếu VNM đã sở hữu trước đó để thu tiền về và nhận lại một lượng cổ phiếu VNM từ hợp đồng tương lai với khối lượng thấp hơn khối lượng họ bán ra.
Do tầm quan trọng của giá thanh toán của hợp đồng tương lai nên các hợp đồng gần đến ngày đáo hạn thường có thanh khoản cao, nhà đầu tư tất toán trước ngày đáo hạn hoặc để chuyển giao vào ngày thanh toán cuối cùng. Do đó, giao dịch trên thị trường phái sinh lẫn thị trường cơ sở sẽ sôi động khi các hợp đồng phái sinh đến hạn thanh toán cuối cùng. Thanh khoản hai thị trường sẽ được cải thiện.
Để hạn chế các hành vi thao túng giá cơ quản lý trên, các Sở giao dịch trên thế giới thường sử dụng các phần mềm giám sát có tính năng theo dõi liên thị trường, cả thị trường cơ sở và thị trường phái sinh.
Ngoài ra, các tính các Sở giao dịch sử dụng các công cụ kỹ thuật như: sử dụng cách xác định giá thanh toán cuối cùng hợp lý để hạn chế tác động vào giá đóng cửa, loại các giao dịch thỏa thuận, các giao dịch lớn có dấu hiệu bất thường khi xác định giá thanh toán cuối cùng cho thị trường phái sinh, sử dụng các biện pháp kỹ thuật như tự động đóng cữa thị trường trong n phút cuối phiên định kỳ (Random-end), chặn sửa hủy lệnh trong phiên khớp lệnh định kỳ…..
Ngoài các công cụ kỹ thuật trên, các Sở giao dịch cần xây dựng các sản phẩm phái sinh phù hợp với tài sản cơ sở, khi thiết kế các sản phẩm phái sinh cần nghiên cứu nhu cầu thực tế của thị trường, biến động của tài sản cơ sở. Thông thường, các Sở giao dịch thường chọn các tài sản cơ sở có vốn hóa lơn để xây dựng sản phải sinh làm cho các đối tượng thao túng khó có thể tác động vào giá, đối với chỉ số cần sử dụng các chỉ số hạn chế số lượng cổ phiếu lớn tham giá tính chỉ số. Ngoài ra, quy định giới hạn vị thế cho từng loại nhà đầu tư cũng là biện phái hữu hiệu để hạn chế thao túng giá trên thị trường phái sinh.

Thứ Ba, 23 tháng 5, 2017

Thuật ngữ » Chứng khoán phái sinh

Nhắc đến chứng khoán, mọi người thường chỉ nghĩ đến cổ phiếu, trái phiếu như những công cụ đầu tư hiệu quả, trong khi thị trường chứng khoán còn rất bao la, mà cổ phiếu, trái phiếu chỉ là một vài trong số đó. Còn vô số những khái niệm và công cụ đầu tư khác phải kể đến, mà chứng khoán phái sinh chính là yếu tố quan trọng đầu tiên không thể bỏ qua.    

Chứng khoán phái sinh (derivatives) là những công cụ được phát hành trên cơ sở những công cụ đã có như cổ phiếu, trái phiếu, nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán rủi ro, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận. Các chứng khoán phái sinh sẽ là đòn bẩy, làm tăng nhiều lần giá trị các các đối tượng đầu tư như cổ phiếu, trái phiếu, hoặc để đảm bảo rằng nếu giá của cổ phiếu, trái phiếu có thay đổi bao nhiêu thì giá của các công cụ phái sinh vẫn sẽ được duy trì ở mức ban đầu.

Thị trường các chứng khoán phái sinh là thị trường phát hành và mua đi bán lại các chứng từ tài chính, như quyền mua cổ phiếu, chứng quyền, hợp đồng quyền chọn. Các công cụ phái sinh rất phong phú và đa dạng, nhưng có bốn công cụ chính là Hợp đồng kỳ hạn (forwards), Hợp đồng tương lai (futures), Quyền chọn mua hoặc bán (options) và Hợp đồng hoán đổi (swaps). Ngày nay khi thị trường chứng khoán biến động từng giây từng phút thì việc nắm trong tay những công cụ phái sinh là một biện pháp khôn ngoan để đối phó với rủi ro.


Các phái sinh chứng khoán Futures và Options thường phức tạp và có tính chất dao động mạnh, nhưng đồng thời cũng là các phương án đầu tư có ích. 

Futures là nghĩa vụ mua hoặc bán một hàng hoá cụ thể nào đó, ví dụ như: ngũ cốc, vàng hay trái phiếu Kho bạc trong một ngày nào đó theo một giá đã được xác lập trước.

Options là quyền bán hoặc mua một hạng mục hàng hoá cụ thể nào đó như: cổ phiếu, kim loại quý hoặc trái phiếu Kho bạc theo một giá đã xác lập trước trong một khoản thời gian nào đó. 

Các khoản đầu tư phái sinh

Một lí do khiến các chứng khoán phái sinh futures và options trở nên phức tạp là vì chúng là các khoản đầu tư phái sinh. Thay vì đại diện cho cổ phần của người sở hữu như cổ phiếu, hay cam kết trả nợ như trái phiếu - mỗi hợp đồng futures hoặc option thường được cách ly khỏi một tài sản cơ bản (underlying asset) nào đó một vài cấp.

Ví dụ, một hợp đồng futures gia súc là sự đánh cược về hướng giá gia súc sẽ biến động như thế nào trong tương lai. Những biến động về giá gia súc xảy ra tự thân nó đã có lợi cho những người chăn nuôi gia súc và người chế biến thịt, nhưng không hoàn toàn có lợi cho tất cả các nhà đầu tư đã mua (nắm giữ) hợp đồng futures. Mỗi lần giá biến động, việc chọn thực hiện hợp đồng futures gia súc sẽ chỉ có lợi cho nhà đầu tư nào muốn đánh cược trên giá gia súc, chứ không mang lại lợi ích trực tiếp tới những người mua hoặc bán gia súc.


Giảm thiểu rủi ro

Đối với một số người, các chứng khoán phái sinh futures và options có thể là công cụ phân tán bớt (giảm) rủi ro. Những người nông dân cam kết bán lúa ở một mức giá tốt sẽ được bảo vệ nếu giá giảm. Nhà đầu tư sở hữu options quyền bán (put option) trên những cổ phiếu họ sở hữu thì có thể bù đắp một phần thua lỗ của mình nếu thị trường bị suy giảm.

Phần lớn các nhà đầu tư đều giao dịch futures và options để giảm bớt rủi ro vì khả năng bị lỗ nhiều có thể sẽ được bù đắp bằng cơ hội đạt được khoản lợi lớn. Nhưng các nhà đầu tư đơn lẻ thường là những người chơi nhỏ trong thị trường futures và options do rủi ro cao và lợi nhuận lại không đoán trước được.

Đòn bẩy làm tăng rủi ro

Phương pháp đòn bẩy (leverage), theo thuật ngữ tài chính, có nghĩa là việc sử dụng một số tiền nhỏ để thực hiện một khoản đầu tư có giá trị lớn hơn rất nhiều. Bạn có thể mua một hợp đồng tương lai (futurescontract) trị giá hàng nghìn đô la với khoản đầu tư ban đầu chỉ bằng 10% tổng trị giá hợp đồng.

Ví dụ, nếu bạn mua một hợp đồng vàng trị giá 35.000$ (khi 1 ounce vàng bằng 350$) bạn có thể chỉ cần bỏ ra 3.500$.


Đó chính là một sự đảm bảo tốt cho bạn và sẽ tạo cho bạn một lực bẩy hơn 100 ounce (oz.) vàng. Với một hàng hoá có giá dao động bất ổn như vàng, dao động giá khoảng 100$ trong suốt thời hạn của hợp đồng là hoàn toàn có thể xảy ra. Vì vậy, nếu giá tăng 100$, tức là lên đến 450$ một ounce, giá trị đầu tư của bạn có thể lên đến 10.000$ - gần như đạt mức lãi 300% so với đầu tư gốc 3.500$ của bạn. Mỗi lần giá một ounce vàng tăng lên 10 cent thì giá trị hợp đồng sẽ tăng lên 10$.

Tuy vậy, đương nhiên là điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Nếu giá giảm và giá trị đầu tư của bạn cũng sụt xuống 300%, việc này có thể lấy mất hơn 10.000$ của bạn -- đôi khi còn nhiều hơn -- để thực hiện đúng cam kết của hợp đồng khi bạn bị lỗ. Vì vậy, mặc dù đòn bẩy khiến cho việc cam kết lúc ban đầu có vẻ thuận lợi nhưng những diễn biến có thể xảy ra trong quá trình đầu tư phái sinh này có thể gây ra cho bạn những khoản thua lỗ lớn.

Hiệu lực trong thời hạn

Mặc dù futures và options là các giao dịch cho tương lai, nhưng đó là một tương lai không hề xa. Các hợp đồng futures lúa và các nguồn thực phẩm khác nói chung hết hiệu lực trong vòng một năm nhưng chúng ta cũng có thể thấy các hợp đồng giao dịch futures tài chính nào đó - ví dụ giao dịch Eurodollars- có thời hạn tới tận 5 năm.

Hợp đồng options thường có hiệu lực trong vòng một năm hoặc ít hơn. Tuy nhiên, các chứng khoán thuộc nhóm LEAPS (Long-term Equity Anticipation Securities), có liên hệ mật thiết với các cổ phiếu và chỉ số cổ phiếu, có thể giao dịch lên đến 36 tháng.

Các hợp đồng futures và options hết hạn tại một thời điểm đã được định sẵn (các kỳ hạn của chúng xảy ra thường xuyên và nối tiếp nhau) và sẽ không còn hiệu lực giao dịch sau ngày đáo hạn. Trên thị trường tài chính Mỹ, bạn có thể bù đắp hợp đồng hoặc thực hiện options vào bất kỳ một ngày giao dịch nào trước ngày hợp đồng đó hết hạn.

Cận cảnh một giao dịch hợp đồng tương lai chỉ số VN30

Ngày 2/6 tới đây, TTCK phái sinh sẽ chính thức ra mắt với sản phẩm đầu tiên được triển khai là hợp đồng tương lai chỉ số cổ phiếu (Equity Index Futures). Theo đó, chỉ số VN30 Index cùng với HNX30 Index sẽ là 2 chỉ số được chọn làm tài sản cơ sở cho hợp đồng tương lai chỉ số. Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu vận hành thì chỉ có hợp đồng tương lai với chỉ số VN30 Index triển khai trước.
Hiện tại, bộ chỉ số VN30 Index là một trong những chỉ số ít bị chi phối nhất. Do đó, việc lựa chọn VN30 Index làm tài sản cơ sở cho hợp đồng tương lai sẽ bảo đảm quyền lợi cho nhà đầu tư.
Câu hỏi đối với những nhà đầu tư quan tâm là Giao dịch hợp đồng tương lai thế nào?
Trước hết cần chú ý, một nội dung quan trọng của hợp đồng tương lai là hệ số nhân. Theo quy địnhhệ số nhân đối với VN30 Index là 100.000 đồng, điều này có nghĩa là quy mô hợp đồng cơ sở tương lai chỉ số VN30 Index tại mức 700 điểm là 70 triệu đồng (100.000 đồng x 700).
Tuy vậy, chỉ cần số tiền ký quỹ ban đầu bằng 10% quy mô hợp đồng, tức 7 triệu đồng, NĐT đã có thể tham gia giao dịch.
Mức Ký quỹ ban đầu = giá HĐ muốn mua/bán * hệ số nhân HĐ * số lượng HĐ mua/bán * tỷ lệ ký quỹ
Bên cạnh đó, nhà đầu tư cũng cần có khoản ký quỹ duy trì theo yêu cầu của trung tâm bù trừ.
Ví dụ dưới đây sẽ minh họa cụ thể hơn về cách thức giao dịch hợp đồng tương lai.
Ngày 02/06/2017, chỉ số VN30 là 700 điểm.
Nhà đầu tư A dự báo đến thời điểm đáo hạn, hợp đồng chỉ số VN30 tăng lên 720 điểm, do đó mua hợp đồng VN30F1706 với giá 710 điểm chỉ số. Với tỷ lệ ký quỹ ban đầu là 10%, tỷ lệ ký quỹ duy trì là 5% (ví dụ), A sẽ ký quỹ 7,1 triệu đồng tại CTCK. Số tiền ký quỹ ban đầu này sẽ được Trung tâm thanh toán bù trừ sử dụng trong việc tính toán lãi/lỗ của nhà đầu tư.
Nhà đầu tư B kỳ vọng ngược lại, cho rằng chỉ số VN30 sẽ giảm xuống 680 nên muốn bán một hợp đồng tương lai VN30F1706 với giá 710 điểm. B cũng phải ký quỹ ban đầu 7,1 triệu đồng.
Lệnh của nhà đầu tư A khớp với lệnh của Nhà đầu tư B tại giá hợp đồng tương lai chỉ số VN30 đáo hạn tháng 6 (VN30F1706), giao dịch tại giá 710 điểm chỉ số, hệ số nhân hợp đồng là 100.000 đồng.
Trên thị trường chứng khoán phái sinh, cơ chế thanh toán là thanh toán hàng ngày. Nhà đầu tư khi giao dịch và nắm giữ các vị thế trong các hợp đồng chứng khoán phái sinh sẽ phải thực hiện thanh toán toàn bộ lãi lỗ phát sinh từ các vị thế đó mỗi ngày.
Ví dụ đóng cửa phiên giao dịch ngày 03/06, VN30-Index giảm xuống còn 650 điểm. Nhà đầu tư A lỗ 5 triệu đồng. A phải thanh toán đầy đủ toàn bộ số lỗ phát sinh chậm nhất đến 9h sáng ngày hôm sau.
Do nhà đầu tư B ở vị thế đối nghịch, nên diễn biến tài khoản và biến động ký quỹ sẽ ngược lại với A.
Cần chú ý, khi giá trị ký quỹ của nhà đầu tư xuống thấp hơn mức cho phép (mức Ký quỹ Duy trì), nhà đầu tư phải nhanh chóng bổ sung ký quỹ. Nếu không bổ sung ký quỹ kịp thời, nhà đầu tư buộc phải đóng một phần/toàn bộ vị thế đang nắm giữ bằng việc đặt lệnh đối ứng trên thị trường.
Tuy nhiên, đến ngày đáo hạn của hợp đồng, giả sử là ngày 22/06/2016, chỉ số VN30 đóng cửa tại 720 điểm và mức chỉ số đóng cửa này được dùng làm giá thanh toán cuối cùng cho hợp đồng tương lai VN30F1706. Như vậy, Nhà đầu tư A dự đoán đúng, nhà đầu tư B dự đoán sai, mức lãi cuối cùng của NĐT A cũng như mức lỗ cuối cùng của NĐT B được xác định như sau:
Nhà đầu tư A lãi = (720-710)*100.000 đồng = 1 triệu đồng
Nhà đầu tư B lỗ = (720 – 710)*100.000 đồng = 1 triệu đồng

“Ma lực” của chứng khoán phái sinh: Cùng một tình huống, tỷ suất sinh lời của hợp đồng tương lai gấp 7 lần cổ phiếu

Tuy nhiên, trong trường hợp bị lỗ thì khoản lỗ của hợp đồng tương lai chỉ số cũng cao gấp nhiều lần khi mua cổ phiếu.

Lợi thế đòn bẩy là một đặc điểm khác biệt của Chứng khoán phái sinh đối với các chứng khoán cơ sở. Về cơ bản, khi tham gia giao dịch Hợp đồng tương lai, nhà đầu tư chỉ phải bỏ ra một khoản tiền (Ký quỹ) có giá trị nhỏ hơn giá trị của hợp đồng mà nhà đầu tư muốn tham gia (giá trị hợp đồng).
Ví dụ: NĐT có nhu cầu tham gia vị thế mua 01 HĐTL trên chỉ số HNX30 đáo hạn vào tháng 5/2016. NĐT đặt lệnh mua 01 hợp đồng với giá chào mua là 103 điểm và được khớp trên thị trường với giá trên. Như vậy, nhà đầu tư đã được Trung tâm thanh toán bù trừ (TTTTBT) ghi nhận là đã tham gia 01 vị thế mua với giá 103 điểm.
Nếu tại mẫu hợp đồng tương lai chỉ số HNX30 quy định: Hệ số nhân của 01 hợp đồng là 1 triệu đồng/điểm chỉ số thì giá trị 01 hợp đồng của NĐT trên bằng:
103 điểm x 1 triệu đồng/điểm chỉ số = 103 triệu đồng.
Tuy nhiên, nếu mức ký quỹ ban đầu được quy định là 15% thì thay vì việc phải bỏ ra 103 triệu, NĐT chỉ phải bỏ ra số tiền và/hoặc tài sản có giá trị = 103 triệu *15% = 15,45 triệu đồng để tham gia hợp đồng.
Số tiền ký quỹ ban đầu này sẽ được TTTTBT sử dụng trong việc tính toán lãi/lỗ của NĐT. Ví dụ: khi giá HĐTL tăng từ 103 lên 105 điểm, NĐT đang có lãi với giá trị bằng: (105-103)*1 triệu đồng/điểm chỉ số = 2 triệu đồng.
Giá trị ký quỹ của nhà đầu tư sẽ tăng: 15,45 triệu + 2 triệu = 17,45 triệu đồng.
Nếu như giao dịch tại thị trường cơ sở thì phần trăm lãi của NĐT trên số tiền ban đầu bỏ ra sẽ chỉ bằng: (105-103)/103*100%=1,94%.
Tuy nhiên, đối với HĐTL thì phần trăm lãi của NĐT sẽ bằng: (105-103)/15,45*100%= 12,95%.
Như vậy có thể thấy, một biến động nhỏ về giá của HĐTL có thể tạo ra hiệu ứng lãi/lỗ trên khoản đầu tư lớn hơn nhiều so với việc đầu tư vào các chứng khoán cơ sở.
Tuy nhiên, đây là trường hợp NĐT có lãi. Lợi thế đòn bẩy được coi là con dao 2 lưỡi với nhà đầu tư. Khi giá của HĐTL biến động theo chiều hướng có lợi (ví dụ: Giá HĐ tăng đối với NĐT nắm vị thế mua và giá HĐ giảm đối với NĐT nắm vị thế bán), thì NĐT có thể ghi nhận một khoản lãi lớn trên giá trị ký quỹ ban đầu. Nhưng ngược lại, khi giá HĐ biến động theo chiều hướng bất lợi, NĐT có thể sẽ phải chịu những khoản thiệt hại lớn trên khoản ký quỹ trong thời gian ngắn.
Cũng ví dụ trên nếu giá HĐTL giảm từ 103 xuống 100, thì nhà đầu tư A lỗ: (103-100)*1 triệu đồng= 3 triệu đồng.
Giá trị ký quỹ giảm còn 12,45 triệu đồng, tương ứng mất(3/15,45=19,4%)
Trong khi khoản lỗ trên thị trường cơ sở chỉ là 2,9%.

Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017

“Soi” chuyện cho bán khống chứng khoán ở Việt Nam từ kinh nghiệm nước ngoài

Khi một thị trường sản phẩm tài chính trên đà hoặc có chiều hướng giảm sút, lập tức sẽ có nhiều nhà đầu tư lao vào thực hiện các giao dịch bán khống, làm thị trường càng bị ngập lụt bởi một nguồn cung sản phẩm tài chính bổ sung khổng lồ.

Hồi tháng trước, Ủy ban Chứng khoán nhà nước (UBCKNN) công bố lấy ý kiến về Thông tư thay thế Thông tư 74/2011/TT-BTC ngày 1/6/2011 hướng dẫn về giao dịch chứng khoán. Với những quy định mới về giao dịch trong ngày và cho vay chứng khoán, thực chất dự thảo Thông tư này đã mở đường cho hoạt động bán khống (ở mức độ thấp).
Dự thảo Thông tư trên đã được đón nhận một cách tích cực bởi các chủ thể liên quan. Nếu được ban hành, Thông tư trên sẽ mang đến những lợi ích lớn dễ thấy như tăng tính thanh khoản trên thị trường, để giá cả phản ánh chính xác hơn điều kiện thị trường, đồng thời thúc đẩy quy mô cũng như tần suất giao dịch của các nhà đầu tư, qua đó làm tăng doanh thu của các công ty chứng khoán. Ngoài ra, bằng việc quy định những điều kiện chặt chẽ cho các công ty chứng khoán nếu muốn tham gia cung cấp dịch vụ giao dịch trong ngày, Thông tư mới cũng được kỳ vọng là sẽ đẩy mạnh quá trình cạnh tranh, tái cơ cấu các công ty chứng khoán theo hướng lành mạnh hơn.
Về tác động tiêu cực của dự thảo Thông tư trên, nhìn chung các ý kiến phản biện thường khá sơ sài, mới chủ yếu chỉ dừng lại ở việc chỉ ra rằng tác động tiêu cực, nếu có, chỉ là rủi ro về phía công ty chứng khoán khi cho khách hàng thực hiện các giao dịch bán khống mà các cổ phiếu được cho vay lại giảm giá sâu, gây thiệt hại lớn cho các công ty chứng khoán khi thực hiện nghiệp vụ này.
Chuyện lợi hại của việc cho bán khống dường như chỉ có thể và đơn giản như thế nếu như không có sự kiện thị trường chứng khoán Trung Quốc chao đảo mạnh từ mấy tuần nay nhắc nhở chúng ta về “tử huyệt” của một thị trường chứng khoán cho phép bán khống không có một cơ chế kiểm soát thích hợp.
Như đã biết, một trong những nguyên nhân quan trọng như có tác dụng “đổ thêm dầu vào lửa” trong mỗi cuộc khủng hoảng tài chính nào đó trên thế giới là chuyện bán khống. Bán khống một tài sản tài chính nào như chứng khoán, ngoại tệ… là việc bán tài sản đó khi người bán không thực sự sở hữa nó vào thời điểm thực hiện giao dịch bán. Người bán với mục đích đầu cơ và nhận định thị trường sẽ đi xuống trong thời gian tới nên vay mượn tài sản đó từ các cá nhân hay tổ chức nào đó như công ty chứng khoán hoặc ngân hàng thương mại rồi bán ra với hy vọng trong thời gian tới sẽ mua lại chính những tài sản đó nhưng với giá thấp hơn để hoàn trả cho người mình vay nhằm thu lợi.
Khi một thị trường sản phẩm tài chính trên đà hoặc có chiều hướng giảm sút, lập tức sẽ có nhiều nhà đầu tư lao vào thực hiện các giao dịch bán khống, làm thị trường càng bị ngập lụt bởi một nguồn cung sản phẩm tài chính bổ sung khổng lồ. Xu hướng lao dốc của giá sản phẩm tài chính đó ngày càng trở nên rõ nét hơn với làn sóng bán khống này, đến lượt nó lại càng kích thích quy mô bán khống gia tăng. Kết cục là có những thị trường tài chính lẽ ra đã có thể hồi phục ngay từ những chao đảo do những bất cân đối ngắn hạn và không mạng tính cơ cấu nhưng rốt cuộc lại bị nhấn chìm trong đổ vỡ bởi những làn sóng bán khống.
Chính vì lý do trên bên cạnh những lý do khác mà thị trường chứng khoán Trung Quốc đã chao đảo mạnh và nhà cầm quyền nước này buộc phải áp dụng nhiều biện pháp can thiệp quyết liệt, trong đó có các biện pháp cấm bán khống chứng khoán.
Từ trường hợp của thị trường chứng khoán Trung Quốc, bài học rút ra cho Việt Nam không phải là rút ngay lại quy định cho phép bán khống chứng khoán đang được thai nghén cho ra đời để ngăn ngừa khả năng nó sẽ châm ngòi cho sự sụp đổ thị trường chứng khoán Việt Nam. Thay vào đó, song song với việc cho phép bán khống chứng khoán cần phải ban hành những quy định để khống chế bán khống một chứng khoán nào đó đang chịu áp lực mất giá mạnh, nhờ đó ổn định thị trường và duy trì lòng tin của nhà đầu tư.
Việc khống chế bán khống đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới. Chẳng hạn, ở Mỹ, có quy định rằng việc bán khống sẽ bị hạn chế với một chứng khoán nào đó (cả trong và ngoài sở giao dịch chứng khoán) nếu chứng khoán đó đã mất hơn 10% giá trị trong vòng 1 ngày so với giá cuối ngày giao dịch trước đó. Quy định này tạo điều kiện cho các “long seller” (mua trước – bán sau?) được xếp hàng trước những người bán khống để bán chứng khoán đó một khi điểm giới hạn bán khống được kích hoạt. Khi đó, bán khống chỉ được cho phép nếu giá của chứng khoán đó cao hơn giá chào mua hiện hành cao nhất trên toàn quốc.
Ủy ban chứng khoán Mỹ cho biết thêm rằng họ quy định vậy vì họ nhận thức được tác động hai mặt của bán khống (và vì thế hạn chế có điều kiện việc bán khống). Giải pháp này được nhìn nhận là đã tạo ra một cơ chế tự ổn định cho thị trường trong những giai đoạn đi xuống hoặc biến động mạnh.
Tóm lại, bên cạnh các quy định liên quan đến việc bán khống như hiện tại đang được đề xuất, UBCKNN nên cân nhắc và đưa thêm vào dự thảo Thông tư mới về hướng dẫn giao dịch chứng khoán với những điều khoản liên quan đến cơ chế kiểm soát bán khống chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam khi có những biến động bất lợi xảy ra nhằm ngăn chặn từ xa một trong những yếu tố có khả năng gây đổ vỡ cho thị trường trong tương lai.

George Soros – Thiên tài bán khống

Thị trường tài chính thế giới đã ghi nhận nhiều vụ bán khống thể hiện tài năng của những nhà đầu tư tài ba có thể “một tay che cả bầu trời” và khiến thị trường chao đảo. Nhắc đến bán khống tiền tệ, không thể không nhắc tới George Soros.

Bán khống trong tài chính có nghĩa là một cách kiếm lợi nhuận từ sự sụt giá mạnh mẽ của một loại tài sản tài chính. Phần lớn các nhà đầu tư sẽ theo đuổi một khoản đầu tư lâu dài khi họ hi vọng giá của tài sản đó sẽ tăng lên. Tuy nhiên, bán khống có nghĩa là bán thứ mà nhà đầu tư không hề có trong tay. Kiếm lợi nhuận từ sự sụt giá có nghĩa là người bán khống sẽ “mượn tạm” tài sản và bán đi sau này, với hi vọng sẽ thu được lợi nhuận vì có thể mua lại ở mức giá thấp để trả nợ và hưởng chênh lệch giá.
Thị trường tài chính thế giới đã ghi nhận nhiều vụ bán khống thể hiện tài năng của những nhà đầu tư tài ba có thể “một tay che cả bầu trời” và khiến thị trường chao đảo. Tài sản trong các vụ bán khống có thể là cổ phiếu, hàng hóa (như dầu mỏ hay các loại hàng hóa khác được giao dịch trên thị trường hàng hóa phái sinh) hay tiền tệ. Nhắc đến bán khống tiền tệ, không thể không nhắc tới George Soros.
Sinh ngày 12/8/1930, ông trùm quỹ đầu cơ người gốc Hungary George Soros là Chủ tịch của quỹ Soros Fund Management và cũng là một nhà từ thiện hào phóng. Không chỉ là người đã “phá vỡ” NHTW Anh bằng cách bán khống đồng bảng và thu về khoản lợi nhuận 1 tỷ USD năm 1992, ông còn bị buộc tội là “kền kền” trục lợi từ khủng hoảng tài chính châu Á cuối những năm 1990 (cũng bằng cách bán khống tiền tệ) và gần đây hơn là bán khống yên Nhật vào năm 2013. Nhiều người sẽ cho rằng ông là kẻ dã tâm khi khiến nhiều nền kinh tế chao đảo, nhưng không ai có thể phủ nhận Soros có bộ óc của một thiên tài mới có thể làm như vậy.
"Ngày thứ 4 đen" của nước Anh
Vụ bán khống đình đám nhất của Soros là “Ngày thứ 4 đen” xảy ra đối với đồng bảng Anh năm 1992. Chính xác thì đó là ngày 16/9/1992, khi Chính phủ Anh buộc phải quyết định rút đồng bảng khỏi Cơ chế tỷ giá hối đoái châu Âu (ERM) do đồng tiền này mất giá quá mạnh. Và, kẻ khiến bảng Anh lao dốc không ai khác chính là Geogre Soros với những đợt tấn công tiền tệ dồn dập.
ERM là cơ chế được lập ra trong nỗ lực hướng đến một đồng tiền chung của châu Âu. Theo đó, các quốc gia thống nhất neo tỷ giá hối đoái của họ vào một mức nhất định, cụ thể là không đồng tiền quốc gia nào được phép tăng giá hay mất giá quá 2,25% với các đồng tiền quốc gia khác.
Vấn đề của Anh là nước này có thâm hụt tài khoản vãng lai nghiêm trọng. Điểm yếu bộc lộ khi Đức thống nhất vào cuối năm 1990, khiến đồng tiền của các quốc gia châu Âu (trong đó có bảng Anh) lên giá so với các đồng tiền bên ngoài như USD hay yên Nhật. Bảng Anh lên giá càng khiến xuất khẩu của Anh sụt giảm và nhập khẩu tăng, khiến cán cân vãng lai thêm mất cân bằng.
Trước tình hình này, giới đầu tư dự đoán chắc chắn Anh sẽ phải phá giá tiền tệ trong tương lai. Với xu hướng giảm giá rõ ràng của đồng bảng, họ bán khống với khối lượng lớn. Điều này càng khiến bảng Anh mất giá nhanh hơn và đến ngày 15/9 đã vượt qua mức 2,25%. NHTW Anh cũng đã phòng ngự bằng cách tung ra lượng lớn dự trữ ngoại hối và tăng lãi suất, nhưng chỉ như “muối bỏ bể”. Soros tung ra đòn cuối cùng khi bán ra hơn 10 tỷ bảng vào ngày 16/9 năm đó, ước tính kiếm được khoảng 1 tỷ USD, trong khi Anh thiệt hại khoảng 3,4 tỷ bảng.
Ngày 26/10/1992, tờ Times chuyển lời của Soros: “Chúng tôi đã có kế hoạch bán ra nhiều hơn con số 10 tỷ USD. Tuy nhiên, Norman Lamont (Bộ trưởng Tài chính Anh lúc đó) đã tuyên bố sẽ vay mượn gần 15 tỷ USD để bảo vệ đồng bảng. Chúng tôi đã cảm thấy nực cười vì đó chính xác là lượng mà chúng tôi muốn bán ra”.
Phá hủy tiền tệ châu Á?
Năm 1997, cái tên George Soros lại gây xôn xao. Trong suốt khủng hoảng tài chính châu Á, Thủ tướng Malaysia Mahathir bin Mohamad đã buộc tội Soros sử dụng tiền bạc để “trừng trị” Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) vì đã chào đón Myanmar trở thành thành viên. 9 năm sau (2006), ông có cuộc gặp với Soros và phải thừa nhận rằng Soros không phải chịu trách nhiệm về khủng hoảng. Tuy nhiên, trong cuốn “The Crisis of Global Capitalism: Open Society Endangered” (tạm dịch: Khủng hoảng chủ nghĩa tư bản toàn cầu: xã hội mở gặp hiểm nguy) , Soros đã giải thích rõ ràng vai trò của mình như sau:
Khủng hoảng tài chính bắt nguồn ở Thái Lan năm 1997 thực sự không đáng sợ vì quy mô và độ nghiêm trọng của nó… Đầu năm 1997, quỹ Soros Fund Management nhận thấy rõ ràng rằng sự khác nhau giữa cán cân thanh toán và cán cân vốn (của các quốc gia Đông Nam Á) ngày càng trở nên không bền vững. Chúng tôi bán khống đồng baht Thái và ringgit của Malaysia vào đầu năm 1997 với thời gian đáo hạn từ 6 tháng đến 1 năm. Thủ tướng Mahathir của Malaysia đã buộc tội tôi gây ra khủng hoảng, đó thực sự là lời buộc tội vô căn cứ. Chúng tôi không bán đồng tiền này trong hoặc vài tháng trước khủng hoảng, mà ngược lại đã mua vào khi những đồng tiền này bắt đầu giảm giá. Chúng tôi mua vào ringgit để lấy lợi nhuận cho các khoản đầu cơ trước đó. Thời điểm là hơi sớm và chúng tôi đã để lại phần lớn lợi nhuận vì lo ngại Mahathir sẽ áp đặt các biện pháp kiểm soát vốn. Đúng là ông ấy đã làm thế nhưng là một thời gian lâu sau đó.
GDP thực của ASEAN đã giảm 9,2 tỷ USD trong năm 1997 và 218,2 tỷ USD (tương đương 31,7%) trong năm 1998.
Bán khống đồng yên Nhật
Lần gần đây nhất thế giới phải xôn xao bàn tán về Soros là năm 2013. Soros được cho là đã kiếm lời 1,2 tỷ USD nhờ bán khống đồng yên Nhật. Điểm mà ông tận dụng lại là sự yếu kém của kinh tế Nhật với giảm phát và suy thoái cùng với sự chần chừ của NHTW nước này trong việc bơm tiền kích thích kinh tế. Sau đó Thủ tướng Shinzo Abe lên nắm quyền và tung ra Abenomics với chính sách kích thích kinh tế mạnh mẽ, và dĩ nhiên kéo theo đó là đồng yên giảm mạnh 25%.
Các quỹ đầu tư, trong đó có quỹ của Soros, đã nắm trước tình hình và tất nhiên đã sử dụng chiến lược bán khống để kiếm bộn tiền.
Mua và bán
Năm 2013, Soros cũng ghi dấu ấn khi trở thành kẻ "đổ thêm dầu vào lửa" trong cuộc chiến đắt đỏ giữa các quỹ đầu tư trên hai cổ phiếuHerbalife và JCPenny. Ông về phía Carl Icahn trong vụ thứ nhất và mất tiền cùng Bill Ackman trong vụ thứ hai.
Sau khi gọi Herbalife là một "mô hình kim tự tháp", Ackman đã đối mặt với Icahn trên truyền hình trực tiếp chỉ để chứng kiến Icahn mua vào một lượng lớn cổ phiếu Herbalife. Khi giá cổ phiếu này tăng lên, các quỹ đầu tư khác nhảy vào, trong đó có Soros - người đang sở hữu hơn 5 triệu cổ phiếu và là nhà đầu tư lớn thứ 5 ở đây. Herbalife đã tăng hơn 144% trong năm 2013.Đến quý IV, Soros giảm số lượng xuống còn 3,2 triệu cổ phiếu.
Đối với cổ phiếu của nhà bán lẻ JCPenny, Ackman đã thực hiện chiến dịch mạnh mẽ nhằm yêu cầu một lãnh đạo của Apple là Ron Johnson trở về lãnh đạo JCPenny, chỉ để chứng kiến ông mất gần 500 triệu USD. Soros đã mở vị thế từ tháng 4, khi Ron Johnson bị sa thải và thay thế bởi người tiền nhiệm Mike Ullman. Soros Fund Management trở thành nhà đầu tư lớn thứ hai ở JCPenny, nắm khoảng 19,98 cổ phiếu. Tuy nhiên cổ phiếu của hãng này đã lao dốc một mạch từ tháng 4 đến cuối năm (tổng cộng giảm 38,2%).